Than tăng giá gây áp lực lên giá điện, giãn cách người dân ở nhà khó càng thêm khó

Theo thông tin mới nhất, sản lượng điện than chiếm gần 50% tổng sản lượng hệ thống điện, với xu thế biến động tăng giá than như vừa qua sẽ tạo áp lực lớn đối với giá điện.

Giãn cách xã hội buộc người dân phải ở nhà nhiều hơn, nhiều người lao động nghèo thất nghiệp, bữa ăn hàng ngày, giá điện nước, tiền thuê nhà… dần trở thành nỗi lo lớn. Theo thông tin mới nhất, sản lượng điện than chiếm gần 50% tổng sản lượng hệ thống điện, với xu thế biến động tăng giá than như vừa qua sẽ tạo áp lực lớn đối với giá điện.

Tại buổi tọa đàm mang tên Quy hoạch điện 8 – Mở đường hay thắt lại chuyển dịch xanh diễn ra vào chiều 16/9, một số ý kiến đề cập nỗi lo giá than tăng mạnh sẽ tạo áp lực lên giá điện. Tại tờ trình mới nhất của Bộ Công thương, cơ cấu nguồn điện than đến năm 2030 sẽ tăng thêm 3.000 MW so với tờ trình gửi Chính phủ trước đó, và nguồn điện tái tạo sẽ giảm tới 6.000 MW.

Cụ thể, Bộ Công thương vừa gửi lấy ý kiến các bộ, ngành dự thảo Quyết định của Thủ tướng về việc phê duyệt Quy hoạch phát điện điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030 (gọi tắt là Quy hoạch điện VIII) với một số điều chỉnh đáng chú ý so với tờ trình hồi tháng 3. Các thông số đầu vào phục vụ dự báo nhu cầu phụ tải không thay đổi, do đó kết quả dự báo nhu cầu phụ tải vẫn giữ nguyên so với Tờ trình số 1682 mà Bộ Công thương trình Chính phủ ngày 26/3/2021.

Cơ cấu các nguồn điện đã có sự dịch chuyển đáng kể: Nhiệt điện than dự kiến đến năm 2030 công suất đặt vào khoảng 40.650 MW, tăng hơn 3.070 MW so với tờ trình trước. Một nguồn điện khác cũng tăng là thủy điện nhưng không đáng kể với hơn 600 MW. 

Các loại nguồn tuabin khí hỗn hợp và nhiệt điện khí dùng LNG vẫn giữ nguyên (gần 14.800 MW). Điện mặt trời cũng giữ nguyên với mức 18.640 MW. Công suất đặt của điện gió giảm tới xấp xỉ 4.200 MW, trong đó điện gió ngoài khơi giảm 2.000 MW, tức là về 0 trong tờ trình điều chỉnh (giai đoạn đến 2030). Điện sinh khối và năng lượng tái tạo khác cũng giảm khoảng 2.000 MW.

Cơ cấu điện than tăng, giá than tăng, chuyên gia lo ngại áp lực lên giá điện. Ông Nguyễn Quang Huân – đại biểu Quốc hội  cho rằng quy hoạch điện 8 có điểm tích cực là cố gắng sửa chữa những cái chưa tốt ở quy hoạch 7 với những cải thiện đáng kể. Duy chỉ có điều khiến ông Huân lăn tăn đó là tỷ trọng điện than tăng lên so với tờ trình hồi tháng 3. Vị này lo ngại nhiệt điện than sẽ gặp nhiều hạn chế về khả năng tiếp cận nguồn tài chính. Giá than tăng mạnh cũng sẽ gây rủi ro trong tương lai, ông Huân nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Đức Tuyên – Viện Điện, Đại học Bách Khoa Hà Nội lại cho rằng nhiệt điện tăng lên bởi có những yếu tố về sự định hướng trong vận hành, đảm bảo an ninh năng lượng, rủi ro gần nhưng rất ít, song những vấn đề như nhập khẩu than tương lai, biến động giá cả cũng khó đoán là điểm cần được cân nhắc.

Tăng khoảng 3.000 MW điện than vào năm 2030 là “bước lùi” rất lớn trong chính sách năng lượng của Việt Nam, tạo ra những tác động rất lớn về kinh tế, môi trường và xã hội. 

Giải thích về sự thay đổi cơ cấu trong các nguồn điện, ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm năng lượng và tăng trưởng xanh, cho rằng kết quả này là dễ hiểu nếu nhìn vào đầu bài mà Chính phủ đặt ra cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch. “Với các điều kiện như giảm chi phí truyền tải xa, đảm bảo cân đối nội vùng và chi phí giá điện thì rõ ràng nhiệt điện than có nhiều ưu thế nhất. Giả sử giá than thế giới có tăng gấp đôi đi nữa thì vẫn rẻ hơn điện khí. Còn yếu tố cân bằng nội vùng thì rõ ràng điện gió, điện mặt trời ở nhiều địa phương đã thừa, còn than thì việc cơ động vị trí là rất rõ. Chúng tôi cũng chạy mô hình để tính toán nên rõ ràng với đề bài hẹp như trên thì kịch bản và tư vấn đưa ra là tối ưu”.

Khi sản lượng điện than chiếm gần 50% tổng sản lượng hệ thống điện, với xu thế biến động tăng giá như vừa qua sẽ tạo nên áp lực lớn đối với ngành điện và làm tăng giá điện.

Tại buổi tọa đàm, ông Lê Anh Tuấn – nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Trường Đại học Cần Thơ cho rằng, việc cắt giảm khoảng 8.000 MW năng lượng tái tạo, trong khi tăng khoảng 3.000 MW điện than vào năm 2030 là “bước lùi” rất lớn trong chính sách năng lượng của Việt Nam, tạo ra những tác động rất lớn về kinh tế, môi trường và xã hội. “Nếu chúng ta xét những tác động về mặt môi trường, thì rõ ràng nguồn năng lượng hoá thạch sẽ tạo ra những tác động rất xấu”, ông cho biết và dẫn chứng các nhà máy điện than ở miền Bắc, miền Trung đã có những bài học rất lớn về tác động cho môi trường.

Dưới góc độ ảnh hưởng về kinh tế, bà Ngụy Thị Khanh – Chủ tịch Liên minh năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) – cũng cho rằng, từ xưa đến nay, chúng ta vẫn nghĩ điện than là giá rẻ. Tuy nhiên, sự biến động của giá than trong thời gian qua cảnh báo rủi ro rất lớn về hệ lụy kinh tế nếu tiếp tục phát triển điện than. Giá than trong thực tế đã cao hơn cả so với dự báo năm 2045 đưa ra tại dự thảo. Nếu tỷ trọng điện than tiếp tục tăng nữa mà giá than cứ tăng lên theo xu hướng hiện nay thì tạo áp lực rất lớn. “Khi sản lượng điện than chiếm gần 50% tổng sản lượng hệ thống điện, với xu thế biến động tăng giá như vừa qua sẽ tạo nên áp lực lớn đối với ngành điện và làm tăng giá điện” – Bà Khanh nói.

Ông Hoàng Xuân Lương, nguyên Thứ trưởng, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc, cho rằng trong khoảng 10 năm tới, tức đến năm 2030, điện than vẫn tăng trong khi cắt giảm năng lượng tái tạo như tờ trình mới nhất của Bộ Công Thương so với tờ trình hồi tháng 3/2021 là điều rất đáng buồn. Theo ông Lương, việc Bộ Công Thương nêu ra một số lý do vướng mắc như thời gian qua để cắt giảm năng lượng tái tạo thì nguyên nhân chính bắt nguồn từ cơ chế chính sách, chứ không phải từ bản chất của năng lượng tái tạo. Ông Lương cho rằng xu thế của thế giới là phát triển năng lượng xanh, trong khi Việt Nam đi ngược lại.

Sự thay đổi trong cơ cấu nguồn điện khiến điện có nguy cơ tăng giá, điều này trực tiếp gây nên nhiều vấn đề nan giải, trong đó có áp lực về tài chính lên người dân lao động nghèo, khó càng thêm khó. Rộng hơn, việc tăng cơ cấu điện than cũng ảnh hưởng trực tiếp đến biến đổi khí hậu, trong khi Việt Nam là nước dễ bị tổn thương bởi vấn đề này.